Hối tiếc - là day dứt nhưng cũng là cơ hội

Hối tiếc - là day dứt nhưng cũng là cơ hội

Đặc tính của con người

“Thật sai lầm khi tôi đã học ngành này!” “Chuyển lên thành phố là một quyết định tồi tệ.” “Tại sao tôi lại bắt đầu hút thuốc?” “Lẽ ra tôi nên đi khám sức khỏe toàn diện từ lâu rồi…” Biết bao người có thể đồng cảm với những lời than thở ấy và nhiều câu tương tự khác! Dường như khoảng 90 phần trăm con người đã từng trải qua những hối tiếc đáng kể trong cuộc đời mình, đến mức cảm xúc này có thể được xem như một kinh nghiệm gần như phổ quát của nhân loại. Những hối tiếc thường gặp nhất liên quan đến việc học hành, nghề nghiệp, các mối tương quan giữa người với người, những quyết định quan trọng của đời mình và những cơ hội đã vuột khỏi tầm tay. Tính phổ biến của hối tiếc thường dẫn đến việc nó được đánh giá theo chiều hướng tiêu cực, bởi người ta xem đó là nguồn gây đau khổ và những dằn vặt không cần thiết. Tuy nhiên, các nghiên cứu tâm lý học cho thấy một cách hiểu phức tạp và tinh tế hơn. Nếu được nhận diện, đón nhận và xử lý với ý thức và tính xây dựng, sự hối tiếc đó có thể trở thành một phương thế hữu hiệu giúp con người trưởng thành và biến đổi bản thân, đồng chứa đựng rất nhiều bài học quý giá.[1]

Trước hết, xét dưới góc độ nhân học, hối tiếc là một đặc tính rất riêng của con người. Chỉ có con người mới có sự hối tiếc. Điều này bộc lộ những đặc tính riêng biệt của bản tính chúng ta, cũng như chiều kích tinh thần vốn vừa hữu hạn vừa khả ngộ của con người. Thật vậy, mỗi khi có sự hối tiếc, nó nhắc nhở chúng ta rằng mình không chỉ là sản phẩm của hoàn cảnh, nhưng con người còn có khả năng nhìn lại các biến cố đã qua bằng nhận thức hậu nghiệm, đồng thời hình dung những cách thức khác để sống và ứng xử trong cùng hoàn cảnh ấy. Chính vì thế, hối tiếc đã được định nghĩa như là “cảm xúc của những khả thể và của những khát vọng.”[2] Quả thực, hối tiếc cảnh báo con người chống lại thái độ định mệnh luận và sự cam chịu. Dù khó chịu , nhưng tiếng nói của nó vẫn nhắc nhở chúng ta rằng luôn có những con đường khác có thể lựa chọn, dù mỗi con đường đều phải trả một giá nào đó. Hối tiếc là một chuyên gia về những khả thể và là kẻ đối nghịch với chủ nghĩa tất định, sự dửng dưng và thái độ hoài nghi yếm thế. Nó nhắc nhở chúng ta về tự do nội tại vốn có để suy xét và hành động, đồng thời về thực tế rằng tự do ấy luôn đi kèm nguy cơ thất bại.

Trong một thế giới hoàn hảo, nơi con người sống trong sự hài hòa trọn vẹn với lý tưởng và nơi tương lai hoàn toàn có thể được dự đoán cũng như hoạch định, sẽ không còn chỗ cho sự hối tiếc. Tuy nhiên, đó không phải là thế giới của con người; mọi hoàn cảnh trong đời sống đều phủ nhận giả định ấy. Như Søren Kierkegaard đã nhận xét: “Bạn có thể làm điều này hoặc điều kia; suy nghĩ và lời khuyên của tôi với tư cách một người bạn là thế này: dù bạn làm điều này hay điều kia, trong mọi trường hợp bạn cũng sẽ hối tiếc.”[3] Chính sự bất định của các hoàn cảnh hiện sinh khiến chúng ta dễ xem hối tiếc như một sự lãng phí năng lượng vô ích, một nguồn cơn làm tăng thêm lòng thương thân trách phận và trói buộc con người vào những gì đã qua. Có ích gì khi cứ mãi nghiền ngẫm những gì đã xảy ra? Người ta không thể quay ngược kim đồng hồ và trở lại “hiện trường của biến cố”; mà ngay cả nếu có thể, những biến cố khó chịu không lường trước vẫn sẽ xuất hiện, và cùng với chúng là sự hối tiếc. Vì thế, cứ sống đi!

Quả thực, những nhận định ấy chứa đựng một phần sự thật. Tuy nhiên, chúng không thể làm cho tiếng nói ấy im lặng; trái lại, chúng còn khiến nó trở nên dai dẳng hơn, đến mức có thể biến thành một nỗi ám ảnh thực sự. Thật vậy, cách tiếp cận này không chỉ mâu thuẫn nội tại và do đó không khả thi, mà còn giống như việc nói: “Hãy nhớ rằng phải quên đi!” Nó tạo nên điều mà tâm lý học gọi là “ý hướng nghịch lý” (paradoxical intention), nghĩa là càng tránh né điều gì thì điều ấy càng hiện diện. Một nghiên cứu thực nghiệm minh họa hiện tượng này bằng việc yêu cầu người tham gia không nghĩ đến gấu Bắc Cực. Kết quả cho thấy hình ảnh gấu Bắc Cực xuất hiện trong tâm trí họ với tần suất ngày càng cao và gây khó chịu hơn theo thời gian. [4]

Mặc dù hiện diện phổ quát trong kinh nghiệm nhân sinh, tâm lý học chỉ mới thực sự nghiên cứu nghiêm túc về nó trong khoảng hai thập niên gần đây. Kết luận được rút ra là hối tiếc không nên bị loại bỏ (điều vốn là bất khả), nhưng cần được khám phá trong những hình thức biểu hiện đa dạng của nó. Nếu hối tiếc là một đặc điểm riêng biệt của con người, thì đó là vì nó đảm nhận những chức năng nhất định; và nếu những chức năng ấy được nhận biết, chúng có thể giúp chúng ta sống tốt hơn, biến điều tưởng như là một chướng ngại thành một nguồn lực quý giá cho sự trưởng thành. Đó chính là thách đố đã thúc đẩy nhiều tác giả, các chuyên gia trị liệu nhận diện những bài học mà tiếng nói kỳ lạ ấy muốn chuyển tải - tiếng nói thường vang lên mạnh mẽ nhất khi “sự đã rồi” và không còn gì có thể thay đổi được nữa.

Vậy, hối tiếc là gì?

Hối tiếc thường được định nghĩa là một cảm xúc nảy sinh khi con người so sánh một quyết định mình đã đưa ra với một phương án khác mà mình đã không lựa chọn, đồng thời nhận định rằng phương án không được chọn ấy sẽ đem lại kết quả tốt đẹp hơn. Vì thế, hối tiếc bao hàm sự quy trách nhiệm đối với những gì đã xảy ra, đồng thời cho phép con người hình dung những khả thể khác, theo đó sự việc có thể đã diễn ra tốt đẹp hơn. Chính vì vậy, hối tiếc khác với sự thất vọng. Chẳng hạn, trong trường hợp thất vọng, kết quả của một sự việc vẫn còn chưa được biết trước cho đến khi nó thực sự xảy ra, dù trong những tình huống nhỏ nhặt (“Tôi đi xem bộ phim được giới phê bình ca ngợi rất nhiều nhưng lại không thích”; “Tôi thử một món tráng miệng mới nhưng nó không ngon”) hay trong những bối cảnh hệ trọng hơn (“Tôi định bỏ phiếu cho vị ứng cử viên mà tôi quý trọng vì sự trung thực và năng lực của ông ấy, nhưng ông lại đột ngột qua đời”).

Hối tiếc lúc này cũng na ná như mặc cảm tội lỗi (và sự ăn năn phát sinh từ đó). Cả hai đều quy trách nhiệm cho bản thân về điều đã xảy ra. Tuy nhiên, tự bản chất, hối tiếc không mặc nhiên mang tính chất luân lý. Một người có thể hối tiếc vì đã không đi theo con đường ngắm cảnh quen thuộc để về nhà, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc họ cảm thấy mình có lỗi. Tuy nhiên, yếu tố hối tiếc cũng hiện diện trong kinh nghiệm về tội lỗi. Chính khía cạnh trách nhiệm, vốn là đặc điểm chung của cả hai, sẽ giữ vai trò quan trọng trong bối cảnh trị liệu, như sẽ được trình bày ở phần tiếp theo.

Việc phân tích cơ chế của sự hối tiếc chắc chắn có thể giúp chúng ta học biết cách đưa ra những chọn lựa phù hợp với các giá trị của mình và đạt tới sự khôn ngoan đích thực. Mọi quyết định đều tất yếu bao hàm những yếu tố xung khắc, thậm chí đối nghịch nhau; tuy nhiên, chính những điều ấy lại thuộc về bản chất của tiến trình chọn lựa. Những ai đòi hỏi một sự chắc chắn tuyệt đối trước khi quyết định sẽ có nguy cơ không bao giờ thực hiện được những chọn lựa thực sự có ý nghĩa trong đời mình; hơn nữa, họ còn có nguy cơ không nhận ra rằng ngay cả việc không quyết định cũng đã là một quyết định rồi. Các nghiên cứu về chủ đề này cho thấy rằng điều khiến con người day dứt nhiều nhất không phải là những điều đã làm, nhưng là những chọn lựa đã không thực hiện, những cơ hội đã để vuột mất so với con đường mà họ thực sự đã đi.[5] Đó là một trong những bài học quý giá đầu tiên mà sự hối tiếc mang lại: không quyết định điều gì cả, không bao giờ dám mạo hiểm vì một điều mình cho là đáng giá, chính là dấu hiệu của kẻ lười biếng – như Dante gọi họ (Hỏa Ngục, III, 64) là “những kẻ khốn cùng chưa bao giờ thật sự sống,” – và thực chất là một tình trạng chết yểu về phương diện hiện sinh. Chỉ những người đã chết mới hoàn toàn thoát khỏi sự bất định, nhưng cũng chính họ mang theo nỗi tiếc vì chưa bao giờ thực sự sống.

Bản chất của sự hối tiếc

Như đã trình bày, sự hối tiếc phát sinh từ chính thân phận giới hạn và dễ sai lầm của con người. Học biết đánh giá đúng vai trò thực sự của những sai lầm trong các quyết định của mình là chìa khóa để "chế ngự" sự hối tiếc. Mỗi lần thử sức với một điều mới, việc phạm sai lầm là một bước cần thiết để đạt tới sự thành thạo. Ai không cho phép mình mắc lỗi thì sẽ không bao giờ học được một ngôn ngữ, một môn thể thao hay một lĩnh vực tri thức nào. Điều quan trọng không phải là tránh mọi sai lầm, nhưng là nhận ra chúng và xem chúng như một lời mời gọi để hoàn thiện bản thân. Trong ý nghĩa ấy, sự hối tiếc có thể trở thành một người bạn đồng hành quý giá. Những khả thể mà nó mở ra khi nhìn về quá khứ có thể được vận dụng để định hướng cho tương lai. Đó là điều mà các nhà nghiên cứu gọi là "sự hối tiếc có tính dự liệu" (anticipatory regret): con người hình dung trước mình sẽ cảm thấy thế nào về một quyết định sắp được đưa ra – chẳng hạn khi gặp gỡ một người hay đối diện với một hoàn cảnh cụ thể, nhất là những hoàn cảnh quen thuộc – bằng cách tham chiếu đến những kinh nghiệm trong quá khứ. Việc biết định hướng và sử dụng sự hối tiếc theo cách này có thể gia tăng mức độ hài lòng đối với quyết định sau khi đã được đưa ra.[6]

Chính vì thế, các nghiên cứu đã phân biệt nhiều cách thức khác nhau mà cảm xúc này biểu lộ. Chẳng hạn, người ta nhận diện một dạng hối tiếc mang tính nghiền ngẫm (ruminative regret), đặc trưng bởi xu hướng thu mình vào nội tâm. Đó là khuynh hướng chìm đắm trong sự thương hại bản thân, dẫn đến tình trạng tê liệt trong việc đưa ra quyết định, cản trở khả năng thay đổi và ngăn cản cá nhân hướng đến những mối quan tâm hoặc hoạt động khác. Tình trạng ấy giống như việc liên tục phát đi phát lại cùng một thước phim trong tâm trí, khiến tâm trạng ngày càng thêm nặng nề, con người ngày càng tự cô lập và cay đắng hơn, cuối cùng trở thành một tù nhân của chính nội tâm mình mà không tìm thấy lối thoát. Hệ quả của tình trạng này cũng lan sang sức khỏe thể lý và tâm thần, chẳng hạn như chứng trầm cảm và chứng mất khả năng cảm nhận niềm vui (anhedonia).[7]

Ngược lại, cũng có những người biết đón nhận những giá trị mà sự hối tiếc mang lại và quyết định thay đổi đời sống mình. Đó là trường hợp của “sự hối tiếc mang tính điều hướng” (regulatory regret), một hình thức hối tiếc thúc đẩy sự trưởng thành, giúp con người làm chủ cuộc sống của mình và thực hiện những bước đi cụ thể hướng về các giá trị mà họ xác tín là đáng sống. Trong nghiên cứu về tiến trình đưa ra quyết định, Janet Landman chỉ ra rằng sự hối tiếc có thể trở thành một trợ lực quý giá khi nó mang những đặc điểm sau đây: (1) Nhìn nhận khoảng cách tất yếu giữa lý tưởng và thực tại; (2) Chấp nhận sự khó chịu phát sinh từ khoảng cách ấy; (3) Chuyển hóa sự khó chịu đó thành động lực hướng tới những mục tiêu mới.[8] Nhờ đó, một cảm xúc vốn có khả năng gây đình trệ trong hành động lại có thể được biến đổi thành một nguồn động lực mang tính xây dựng. Trong trường hợp này, sự hối tiếc trở nên hữu ích, phục vụ cho sự phát triển của cá nhân và hỗ trợ họ trong quá trình đưa ra các quyết định.

Thật vậy, tự do, vốn là tiền đề thiết yếu để kinh nghiệm sự hối tiếc, trên thực tế không chỉ liên quan đến những chọn lựa trong tương lai, mà còn liên quan đến cách con người nhìn lại quá khứ và toàn bộ cuộc sống của mình. Dẫu không thể thay đổi những gì đã xảy ra, con người vẫn luôn có thể diễn giải lại một thất bại dưới một ánh sáng mới.

Một số ví dụ về “sự hối tiếc mang tính kiến tạo”

Khi còn nhỏ, Charles Dickens buộc phải làm việc mười giờ mỗi ngày trong một xưởng sản xuất xi đánh giày, dưới những điều kiện lao động tủi nhục và khắc nghiệt. Nỗi hối tiếc vì tuổi thơ bị đánh mất cùng sự cay đắng vì cảm giác bị gia đình bỏ rơi đã được ông chuyển hóa thành nguồn cảm hứng để sáng tác. Trong các tác phẩm Oliver Twist và David Copperfield, những đau khổ của cá nhân đã trở thành chất liệu để viết nên một bản phê phán sắc sảo đối với xã hội đương thời, đồng thời góp phần thúc đẩy những cải cách nhằm bảo vệ những người yếu thế và nghèo khổ nhất.

Một ví dụ đương đại là John Paul DeJoria, doanh nhân tỷ phú người Mỹ và là đồng sáng lập thương hiệu John Paul Mitchell Systems. Cuộc đời ông trải qua vô số thất bại và trở ngại, cùng với sự thiếu thốn ngay cả những nhu cầu thiết yếu nhất. Ông từng phải ngủ trong xe hơi suốt nhiều tháng, nhiều lần bị sa thải và các dự án kinh doanh liên tiếp thất bại thảm hại. Tuy nhiên, ông không từ bỏ ước mơ của mình. Trong khi vẫn tiếp tục sống trong chiếc xe hơi, ông cùng với Paul Mitchell – một người đồng nghiệp quen biết qua những công việc trước đó – quyết định thành lập một công ty với số vốn ban đầu chỉ 700 đô-la Mỹ, và về sau đã phát triển thành một doanh nghiệp trị giá hàng tỷ đô-la.

Trong một cuộc phỏng vấn nói về những bài học rút ra từ các kinh nghiệm ấy, có hai điểm đặc biệt đáng lưu ý đối với chủ đề này. Thứ nhất là tầm quan trọng của việc có một động lực đủ mạnh để quy hướng mọi nguồn lực của bản thân, nhờ đó con người không bỏ cuộc trước thất bại: “Tôi đã học được cách không nản lòng khi bị từ chối. Khi ai đó đóng sầm cánh cửa trước mặt bạn mà bạn vẫn không đánh mất lòng nhiệt thành đối với công việc của mình, thì bạn biết mình đã chiến thắng. Bạn phải học cách xem thất bại là một bước đệm dẫn đến thành công, chứ không phải là một dấu chấm hết. Thứ hai là lòng biết ơn “Hãy đền đáp lòng tốt mà bạn đã nhận được. Khi tôi trắng tay, rất nhiều người đã giúp đỡ tôi. Tôi chưa từng quên một ai trong số họ. Ngay khi có được chút tiền đầu tiên, tôi đã tìm cách đáp lại những ân tình họ dành cho mình.” [9]

Một ví dụ khác đáng được nhắc đến là câu chuyện quen thuộc về doanh nhân người Mỹ Steve Paul Jobs. Trong bài diễn văn dành cho các tân cử nhân Đại học Stanford, ông nhìn lại những bài học quan trọng nhất của cuộc đời mình qua lăng kính của những lần vấp ngã. Chính những bài học ấy đã giúp ông điều chỉnh lại các mục tiêu sống và mạnh dạn bước vào những con đường mà, nếu không nhờ những thất bại ấy, có lẽ ông sẽ không bao giờ dám chọn. Cuộc đời của ông đã khởi đầu trong nhiều gian truân ngay từ thuở ban đầu: ông bị cha mẹ ruột bỏ rơi và được cho làm con nuôi. Khi theo học đại học, ông luôn day dứt vì cho rằng số tiền tiết kiệm mà cha mẹ nuôi dành dụm đã bị tiêu tốn vào một ngôi trường mà ông cảm thấy không đem lại nhiều giá trị. Vì thế, ông quyết định bỏ học chính quy và chỉ theo học những môn mà mình thực sự yêu thích, chẳng hạn như môn thư pháp. Chính môn học ấy sau này trở thành nguồn cảm hứng cho dự án Macintosh. Về sau, ông lại bị chính công ty do mình sáng lập sa thải. Thế nhưng, chính cú ngã đó đã mở ra một khởi đầu mới: ông mua lại Pixar và đưa công ty này trở thành một doanh nghiệp giải trí hàng đầu. Sau cùng là căn bệnh ung thư, bài học sau hết và cũng là bài học lớn nhất: đời sống con người quá ngắn ngủi để lãng phí vào những nuối tiếc hay những lời tự trách, đến mức khiến ta không còn đủ can đảm để quyết định điều mà mình xác tín là quan trọng. Ông đã nói: “Việc luôn ghi nhớ rằng một ngày kia bạn sẽ phải chết là cách tốt nhất mà tôi biết để tránh rơi vào cái bẫy nghĩ rằng mình còn điều gì để mất. Bạn vốn đã không có gì để giữ lại. Không có lý do gì để không bước theo tiếng gọi của trái tim mình […]. Đừng bao giờ bằng lòng với sự tầm thường, và cũng đừng sợ thất bại. Chính từ đó mà những bước ngoặt tuyệt vời nhất sẽ xuất hiện.”[10]

Joanne Rowling, tác giả nổi tiếng của bộ truyện Harry Potter, cũng đã trải qua một hành trình đáng khâm phục không kém. Đối với bà, thành công chỉ là bước cuối cùng của một chặng đường đầy gian nan, và thậm chí đó cũng không phải là thành quả quan trọng nhất mà bà đạt được. Cha mẹ bà không tán thành ước muốn theo đuổi con đường văn chương của bà, bởi họ cho rằng nó không bảo đảm tương lai hay cơ hội việc làm ổn định cho bà. Tuy nhiên, Joanne vẫn quyết định chấp nhận rủi ro, kiên trì đi qua nhiều năm tháng cơ cực: nghèo đói, không có nơi ở ổn định và hoàn toàn không có triển vọng được xuất bản. Bản thảo Harry Potter và Hòn đá Phù thủy đã bị ít nhất mười hai nhà xuất bản từ chối. Những điều cha mẹ bà từng lo ngại – trong đó có một người khi ấy đã qua đời – dường như đã trở thành sự thật. Thế nhưng, đối với Joanne, những năm tháng thử thách ấy không chỉ là một lời cảnh tỉnh hay một chuỗi thất vọng, mà còn là một giai đoạn rèn luyện có giá trị đặc biệt. Trong bài diễn văn gửi các tân cử nhân Đại học Harvard, bà chia sẻ: “Thất bại có nghĩa là loại bỏ đi những gì không cốt yếu. Tôi thôi không còn giả bộ để trở thành một ai khác ngoài việc là chính mình, và bắt đầu dồn toàn bộ sức lực để hoàn thành công việc duy nhất thực sự có ý nghĩa đối với tôi [...]. Không ai có thể sống mà chưa từng thất bại trong một điều gì đó, trừ khi bạn sống quá dè dặt đến mức gần như không thực sự sống; mà nếu sống như vậy, ngay từ đầu bạn đã thất bại rồi. [...] Bạn sẽ không bao giờ thực sự biết mình là ai, cũng như sức mạnh của những mối dây liên kết mình có, cho đến khi cả hai được tôi luyện qua nghịch cảnh.” [11]

Trong lĩnh vực âm nhạc, có thể kể đến Christina Aguilera, một trong những nữ nghệ sĩ nổi tiếng nhất của thập niên 2000. Cô lớn lên trong một gia đình không trọn vẹn; bạo lực gia đình đã dẫn đến việc cha mẹ cô ly hôn khi cô mới sáu tuổi, và cô buộc phải bỏ học vì thường xuyên bị bắt nạt. Thay vì mãi chìm đắm trong những bất công và đau khổ mình đã trải qua, Christina đã gửi gắm khát vọng được đổi mới và vươn lên của mình vào âm nhạc, nhờ đó thay đổi cách nhìn về chính cuộc đời mình.[12]

Ngoài những thành công mà cô đạt được, vốn phần nào còn tùy thuộc vào những yếu tố con người không thể lường trước, điều đáng lưu tâm nơi những câu chuyện ấy chính là những đặc điểm của một sự hối tiếc mang tính kiến tạo: biết đón nhận những sai lầm và đau khổ của quá khứ; tránh rơi vào tâm thế coi mình chỉ là nạn nhân; không để những lần vấp ngã trở thành thước đo giá trị bản thân; nhưng tiếp cận chúng như cơ hội để khám phá những bài học khả dĩ, từ đó điều chỉnh nhận thức và lựa chọn một hướng đi mới phù hợp hơn với những nhận thức đã được đổi mới của mình.

Hướng đến một sự hối tiếc mang tính xây dựng

Như chúng ta đã thấy, tự bản thân sự hối tiếc là không đủ để tạo ra một sự thay đổi tích cực. Để hối tiếc trở thành một động lực mang tính kiến tạo, cần hội tụ đủ một số điều kiện. Trước hết và trên hết là sự thành thật với chính mình: xét lại những gì đã xảy ra đúng theo thực tế, không bóp méo hay tô vẽ để khiến nó trở nên dễ chấp nhận hơn, bởi làm như thế cũng có nghĩa là chưa thực sự đón nhận sự thật ấy. Thứ đến, cần học biết hướng về tương lai với lòng can đảm và sự quả quyết, thay vì nhìn tương lai như sự tái diễn đơn thuần của quá khứ. Sau cùng, xác tín này phải được biểu lộ bằng những chọn lựa và hành động cụ thể.[13]

Trong thực hành lâm sàng, sự hối tiếc thường là điểm khởi đầu quan trọng cho tiến trình biến đổi, bởi nó hàm chứa những thông tin quý giá về những khát vọng chưa được thực hiện và những nhu cầu sâu xa đã bị bỏ quên hoặc không được lắng nghe. Khi con người ý thức được thông điệp ẩn chứa trong sự hối tiếc, ý chí đổi mới sẽ được khơi dậy. Thực vậy, người ta nhận thấy rằng điều khiến con người hối tiếc thường không phải là những hành động sai trái, cũng không nhất thiết là những thất bại (như các ví dụ trên đã cho thấy), nhưng đúng hơn là sự bất nhất giữa những chọn lựa của họ và những giá trị mà họ thực sự xác tín. Vì thế, việc nhận ra sự bất nhất ấy trở thành một tiêu chuẩn quan trọng giúp con người đưa ra những quyết định diễn tả cách chân thực hơn điều mà họ thật sự khao khát.

Khác với sự suy tưởng ám ảnh lặp đi lặp lại (“Giá như tôi đã…”), việc xem xét lại ký ức này bằng một thái độ không tự kết án nhưng đầy lòng cảm thông đối với chính mình sẽ giúp chúng ta nhìn nhận toàn bộ biến cố ấy một cách trọn vẹn. Điều này đòi hỏi phải xét lại và đặt sự việc vào đúng bối cảnh của nó: Quyết định ấy được đưa ra dựa trên những cơ sở nào? Khi ấy, có những thông tin quan trọng nào mà ta chưa biết nhưng nay đã được sáng tỏ? Hoàn cảnh cụ thể, trạng thái tâm lý và những áp lực từ môi trường xung quanh khi ấy là gì? Nếu tiến trình phản tỉnh này dẫn đến những định hướng cụ thể và khả thi cho những tình huống trong tương lai, thì sự hối tiếc đã hoàn thành vai trò tích cực của nó. Điều này càng trở nên rõ ràng hơn khi ta nhận ra rằng mình đã từng trải qua những cảm nghiệm tương tự trước đây, nhờ đó ta học biết nhận diện những đặc điểm cũng như những khuynh hướng lặp đi lặp lại của chúng. Ta cũng có thể nhận ra rằng chính những kinh nghiệm ấy, dù đau đớn đến đâu, vẫn đã góp phần hình thành con người của ta hôm nay; vì thế, quá khứ không phải là điều cần bị lãng quên.

Trắc ẩn đối với bản thân không đồng nghĩa với việc biện minh cho những sai lầm của mình. Trái lại, như đã phân tích, việc nhìn nhận những sai lầm của mình là bước khởi đầu thiết yếu, đồng thời cũng là động lực hữu hiệu thúc đẩy con người tiến tới sự hoán cải và hoàn thiện bản thân.[14] Khi một bệnh nhân chân thành nhìn nhận rằng mình hối tiếc vì đã dành nhiều năm trong những mối tương quan độc hại, những thói quen gây tổn hại, hay những công việc không mang lại sự viên mãn, thì chính nhận thức này, kết hợp với khát vọng được phục hồi và đổi mới, thường đặt nền tảng cho việc tái lập trật tự trong đời sống. Điều này có thể thấy nơi nhiều người đã dành trọn tâm sức cho sự nghiệp đến mức phải hy sinh các mối tương quan gia đình, và rồi mang trong mình một nỗi hối tiếc sâu xa. Khi nỗi hối tiếc ấy được đón nhận thay vì phủ nhận hay né tránh, họ dần nhận ra rằng điều họ thực sự theo đuổi ngang qua thành công trong nghề nghiệp lại là một điều hoàn toàn khác: đó có thể là cảm nhận về giá trị bản thân hoặc sự viên mãn trong đời sống nội tâm - những điều mà công việc không thể mang lại. Chính từ đó, họ có cơ hội khám phá và chọn lựa điều thực sự quan trọng, vượt lên trên những biểu hiện bề ngoài hoặc những quan niệm được xã hội mặc nhiên chấp nhận. Nhiều nghiên cứu theo dõi dài hạn, trong đó có Nghiên cứu Harvard về sự phát triển của người trưởng thành, đều cho thấy rằng những mối tương quan có ý nghĩa chính là yếu tố dự báo mạnh mẽ nhất đối với hạnh phúc và sự an định lâu dài của con người.[15]

Nếu sự hối tiếc liên quan đến người khác, thì sự hối tiếc mang tính xây dựng phải được diễn tả bằng những hành động cụ thể: một lời xin lỗi chân thành, những nỗ lực đền bù thiệt hại, và những thay đổi thực sự có thể nhận thấy trong thói quen cũng như cách sống. Nếu không còn có thể thực hiện những điều ấy vì không còn cơ hội liên lạc với những người liên quan, thì vẫn có thể chọn những con đường gián tiếp: chủ động đón nhận những hoàn cảnh tương tự với tâm thế mà trước đây mình ước gì đã có, quảng đại giúp đỡ người khác, và dấn thân nâng đỡ những mục tiêu và hoạt động được xem là có ý nghĩa cho thiện ích chung. Trong những trường hợp ấy, sự hối tiếc không còn chỉ là nỗi đau vì quá khứ, nhưng trở thành sự khôn ngoan được đúc kết từ kinh nghiệm, giúp con người biết phân định và ưu tiên điều nào đáng theo đuổi khi thời gian vẫn còn được ban cho mình.

Chúng ta nên sống quãng thời gian còn lại như thế nào?

Bronnie Ware, một y tá người Úc đã dành nhiều năm chăm sóc những bệnh nhân đang ở giai đoạn cuối của cuộc đời, nhận thấy tiến trình phản tỉnh này quan trọng biết bao khi con người phải đối diện với chính cái chết của mình. Trong cuốn sách Năm Điều Hối Tiếc Lớn Nhất Của Người Sắp Qua Đời (The Top Five Regrets of the Dying), bà tổng hợp những điều hối tiếc phổ biến nhất ở những người đang tiến gần đến điểm cuối cuộc đời. Tất cả đều gắn liền với một câu nói đầy xót xa: “Giá như tôi đã…” Điều khiến họ hối tiếc nhiều nhất không phải là những thất bại hay những lần vấp ngã, cũng không phải những sai lầm có thể đã phạm hay những bất công họ từng phải chịu, nhưng chính là việc họ đã không sống trung thực với bản thân mình, không đủ can đảm để đưa ra những chọn lựa mà họ biết chỉ chính mình mới có thể quyết định. Thay vào đó, họ chọn một cuộc sống lặng lẽ và vô danh, thuận theo kỳ vọng của người khác. Hơn bất cứ điều gì, đó là những “chọn lựa đã không được thực hiện”: dành quá nhiều thời gian cho công việc mà đánh đổi đời sống gia đình và cá nhân; không đủ can đảm để bày tỏ tình cảm với những người thân yêu vì xem sự hiện diện của họ là điều hiển nhiên; lơ là bạn bè và, trên hết, những người đã từng quảng đại làm điều tốt cho mình. “Giá như tôi đã làm điều ấy.” Họ ý thức rằng mình hoàn toàn đã có khả năng làm như vậy.[16]

Bác sĩ tâm thần người Mỹ Irvin Yalom, khi đồng hành với các nhóm bệnh nhân giai đoạn cuối trong một nhóm trị liệu, cũng đi đến cùng một kết luận. Việc chiêm ngắm chính cái chết của mình làm đảo lộn tận căn hệ thống giá trị của con người về những gì trước đây vẫn được xem là quan trọng. Một bệnh nhân đã nói: “Thật đáng tiếc biết bao, tôi đã phải chờ đến lúc này, khi thân xác mình đã bị ung thư tàn phá, mới học được cách sống!” Theo tôi, câu nói ấy diễn tả rất rõ chân lý này: “bởi chúng ta chỉ có một cuộc đời để sống, nên cần sống cuộc đời ấy cách trọn vẹn nhất có thể, để khi kết thúc hành trình dương thế, chúng ta mang theo càng ít điều phải hối tiếc càng tốt.”[17] Yalom cũng nhận định rằng những lời chứng ấy không hề vô nghĩa. Chúng giúp nhiều người khác nhìn lại những chọn lựa của mình trước khi quá muộn, cho thấy rằng ngay cả những điều hối tiếc của người khác cũng có thể trở thành một nguồn khôn ngoan giúp con người biết phòng ngừa và định hướng đời mình.

Trong Linh Thao, Thánh Inhaxiô Loyola đề xuất một phương pháp để đưa ra một chọn lựa quan trọng – hay một “cuộc lựa chọn” (election) – đồng thời cũng giúp chúng ta tránh phải lìa đời trong nuối tiếc. Ngài mời gọi mỗi người hình dung rằng mình đã đi đến cuối cuộc đời, rồi xét mình không phải trước hết về những tội lỗi đã phạm, những đau khổ phải than khóc hay những danh vọng và địa vị đã vuột mất, nhưng để tự hỏi mình còn những điều tốt đẹp nào vẫn chưa kịp thực hiện: một sự hòa giải với người thân yêu, một lời yêu thương chưa từng nói, một nghĩa cử bác ái chưa từng trao, hay một quyết định tốt lành vẫn mãi nằm trong dự định... Sau đó, ngài khuyến khích họ “quyết tâm cách dứt khoát”, để khi đối diện với giờ chết, họ không còn phải trách mình vì đã không thực hiện những điều ấy.[18]

Một bài học về sự khôn ngoan

Sự hối tiếc, thay vì chỉ là một cảm xúc cần tránh né, có thể trở thành một thời điểm quyết định giúp con người đạt tới sự hiểu biết sâu xa về chính mình và định hướng lại toàn bộ cuộc sống. Trong bối cảnh đời sống thiêng liêng, đó còn có thể là một lời mời gọi đích thực dẫn đến ơn cứu độ, một cơ hội để nắm bắt một thời điểm thuận lợi hầu thay đổi hướng đi đời mình. Như chúng ta đã thấy, nhiều cuộc biến đổi sâu sắc nhất trong đời sống con người lại khởi đi chính từ việc can đảm và thành thật đối diện với những chọn lựa không đem lại sự viên mãn. Đối với những người ấy, sự hối tiếc không chỉ là một gánh nặng gây phiền muộn, nhưng còn là động lực thúc đẩy một sự đổi thay đích thực, giúp họ từng ngày một trở nên những tác giả của chính cuốn sách cuộc đời mình, thay vì chỉ là những nhân vật phụ lặng lẽ bước qua các trang sách.

“Chúng ta có muốn cứ mãi quay lại chương trước và lặp đi lặp lại nó không? Dĩ nhiên, điều đó hoàn toàn có thể xảy ra nếu chúng ta để mình bị chi phối bởi sự hối tiếc và mặc cảm tội lỗi. Nhưng nếu thay vào đó, chúng ta quyết định bước sang chương kế tiếp của câu chuyện đời mình thì sao? […] Nếu chúng ta là tác giả của cuốn sách ấy, thì chính chúng ta có thể quyết định chương tiếp theo sẽ được viết như thế nào.”[19]

Sự hối tiếc có thể trở thành một trợ lực quý giá trong việc viết nên cuốn sách ấy. Một trợ lực – chứ không phải là tác giả, và cũng không phải là nhân vật chính.

Link bài gốc: Regret, as Torment and Opportunity


Chuyển ngữ: Jos. John B. | CTV JESCOM - Truyền Thông Dòng Tên


[1]. Cf. C. Saffrey – A. Summerville – N. J. Roese, “Praise for Regret: People Value Regret above Other Negative Emotions”, in Motivation and Emotion 32 (2008/1) 46-54.

[2]. R. L. Leahy, Senza rimpianti. Liberarsi degli errori del passato, Milan, Raffaello Cortina, 2023, 20.

[3]. S. Kierkegaard, Enten-Eller. L’equilibrio fra l’estetico e l’etico nell’elaborazione della personalità, Milan, Adelphi, 1996, 3.

[4]. Cf. D. M. Wegner, White Bears and Other Unwanted Thoughts: Suppression, Obsession, and the Psychology of Mental Control, New York, Penguin, 1994.

[5]. Cf. R. L. Leahy, Senza rimpianti…, op. cit., 39.

[6]. Cf. J. Liu – H. Liu, “Can anticipated regret promote rationality? The influen­ce of anticipated regret on risk aversion and choice satisfaction”, in Frontiers in Psychology 16 (2025), in https://doi.org/10.3389/fpsyg.2025.1667136

[7]. Cf. J. Spasojević – L. B. Alloy, “Rumination as a common mechanism relating depressive risk factors to depression”, in Emotion 1 (2001/1) 25-37.

[8]. Cf. J. Landman, “Regret: A Theoretical and Conceptual Analysis”, in Journal for the Theory of Social Behaviour 17 (1987/2), 135-160.

[9]. “Da senzatetto a miliardario: la storia di John Paul DeJoria”, in Millionaire (www.millionaire.it/da-senza-tetto-a-miliardario-la-storia-di-john-paul-dejoria), April 20, 2015.

[10]. “L’emozionante Discorso di Steve Jobs all’Università di Stanford (in inglese e italiano)”, in Frasimania (www.frasimania.it/discorso-steve-job), January 22, 2024.

[11]. “J. K. Rowling’s 2008 Commencement Address to Harvard Graduates”, in aulab (https://tinyurl.com/mrutvt6z), September 23, 2016. Cf. J. K. Rowling, Buona vita a tutti. I benefici del fallimento e l’importanza dell’immaginazione, Milan, Salani, 2019.

[12]. Cf. L. Hirschberg, “Christina Finds Her Voice”, in W Magazine, July 1, 2010.

[13]. Cf. R. L. Leahy, Senza rimpianti…, op. cit., 241-251; D. H. Pink, Il potere dei rimpianti. Perché guardare indietro ci spinge in avanti, Milan, Mondadori, 2023.

[14]. Cf. K. M. Newman, “How to Grow from Your Regrets”, in Greater Good Magazine, June 20, 2016.

[15]. Cf. G. Cucci, L’arte di vivere. Educare alla felicità, Milan, Àncora, 2019, 123-126.

[16]. Cf. B. Ware, Vorrei averlo fatto. I cinque rimpianti più grandi di chi è alla fine della vita, Rimini, My Life, 2025.

[17]. I. D. Yalom, Diventare se stessi, Vicenza, Neri Pozza, 2018, 214.

[18]. Cf. Ignatius of Loyola, Spiritual Exercises, no. 186: “I will consider, as if I were at the point of death, the conduct I would wish to have adopted in this present choice, and, acting in accordance with that, I will make my decision firmly.”

[19]. R. L. Leahy, Senza rimpianti…, op. cit., 207.

Hối tiếc - là day dứt nhưng cũng là cơ hội

Truyền Thông Dòng Tên

32 người theo dõi
Xem thêm bài viết của người đăng bài này

Bài viết liên quan

Thiên Chúa là mục tiêu, cùng đích, và ý nghĩa tối hậu của đời taLinh Đạo I-Nhã
Thiên Chúa là mục tiêu, cùng đích, và ý nghĩa tối hậu của đời ta

Con người chỉ thực sự đạt đến hạnh phúc khi hết lòng tìm kiếm và thi hành thánh ý hoàn hảo của Thiên Chúa dành cho mình

2 tuần trước
Ba Mẫu NgườiLinh Đạo I-Nhã
Ba Mẫu Người

Có những người ước ao trở thành công dân trong Vương quốc của Đức Kitô, nhưng lòng "ước ao" ấy chỉ dừng lại ở ý muốn.

1 tuần trước
Xét mình: Đức Tin, Đức Cậy, Đức Mến - Phần 3Linh Đạo I-Nhã
Xét mình: Đức Tin, Đức Cậy, Đức Mến - Phần 3

Đức Mến trọn hảo đòi hỏi bạn phải được thanh luyện khỏi mọi tính ích kỷ, để có thể hướng lòng đến việc yêu thương tha nhân, bắt đầu từ việc yêu mến Thiên Chúa

3 ngày trước

Các bài viết được quan tâm