1491 - 1522
1522 - 1523
1523 - 1524
1525 - 1528
1528 - 1535
1537 - 1556

NGƯỜI LÍNH

1491 – 1522

1491 – 1522

I-nhã (tên khai sinh là Iñigo Lopez de Loyola) chào đời năm 1491 trong lâu đài Loyola, là con của một điền chủ địa phương. Tại vùng xứ Basque, ngài được nuôi dưỡng trong ngôi nhà của vợ một người thợ rèn và hầu như không được học hành chính quy. Phần lớn thời thanh niên, theo chính lời ngài kể, I-nhã là:

...một con người mải mê với những chuyện phù phiếm thế gian, đặc biệt là ham mê võ nghệ, với ước ao mãnh liệt và phù phiếm là được nổi tiếng” Hồi ký [1]

Trong khát vọng tìm kiếm vinh quang ấy, I-nhã phục vụ trong quân đội cho đến năm 26 tuổi. Chính tại đây, ngài trải qua một biến cố làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời mình. Khi bảo vệ thành Pamplona nhân danh vua Ferdinand của Tây Ban Nha trước một đội quân Pháp đông đảo, I-nhã bị trọng thương. Ngày 20 tháng 5 năm 1521, một viên đạn đại bác của quân Pháp đã nghiền nát cả hai chân ngài.

Biến cố chấn động này khiến I-nhã phải nằm viện suốt tám tháng – một quãng thời gian trở thành giai đoạn suy tư sâu sắc. Trong khi mong muốn đọc các tiểu thuyết kiếm hiệp, I-nhã chỉ tìm thấy trong bệnh viện các sách về cuộc đời Đức Kitô và các thánh. Việc đọc những câu chuyện ấy đã đánh thức nơi ngài một điều hoàn toàn mới mẻ: ước muốn sống như các thánh.

Khi đọc về cuộc đời Chúa Giêsu và các thánh, thỉnh thoảng kẻ ấy suy nghĩ và tự nhủ: “Giả như tôi làm những điều thánh Phanxicô và thánh Đaminh đã làm thì sao? Hồi ký [7]

Cũng trong thời gian này, I-nhã có những khám phá thiêng liêng đầu tiên về chính bản thân mình.

... có những ý tưởng khiến kẻ ấy buồn, có những ý tưởng giúp kẻ ấy vui. Dần dần kẻ ấy nhận ra các tác nhân [70] khác nhau tác động nơi mình, tác động của ma quỷ và tác động của Thiên Chúa.” Hồi ký [7]

Từ từ, I-nhã nhận ra rằng những điều từng mang lại niềm vui nay không còn hấp dẫn, trong khi viễn tượng sống một đời thánh thiện lại đem đến niềm hân hoan sâu xa. Giấc mơ làm việc cho Thiên Chúa và noi gương các thánh – như hành hương chân đất đến Giêrusalem khiến ngài say mê, còn những mộng tưởng hào hoa lãng mạn thì không. Việc quan sát những chuyển động nội tâm này về sau được I-nhã chia sẻ với người khác dưới tên gọi Phân định Thần loại.

I-nhã bước vào bệnh viện như một người lính tan vỡ, nhưng rời khỏi đó với quyết tâm trở thành một vị thánh lớn



NHÀ THẦN BÍ

1522 – 1523

1522 – 1523
Mọi sự là của Chúa; xin Chúa sử dụng theo ý Chúa. Chỉ xin ban cho con lòng mến Chúa và ân sủng Chúa, vì được như thế là đủ cho con.” Kinh Dâng Hiến

Rời bệnh viện, I-nhã hành hương đến tượng Đức Mẹ tại đền thánh Montserrat. Ngài thức trọn đêm trong một cuộc canh thức cầu nguyện và xưng tội liên tục suốt ba ngày. Tại đây, I-nhã từ bỏ hoàn toàn những phù hoa xưa cũ, đặt thanh gươm xuống vĩnh viễn và hiến dâng mình cho vị Chủ Tể mới.

I-nhã tại Montserrat
“Kẻ ấy quyết định làm một đêm canh thức võ trang, trọn một đêm, không ngồi hay nằm, nhưng khi thì đứng, lúc thì quỳ trước bàn thờ Ðức Mẹ ở Montserrat. Kẻ ấy cũng quyết định tại đó sẽ cởi bỏ trang phục đang mặc để mang trang phục của Ðức Kitô… Kẻ ấy cũng thu xếp với cha giải tội để đan viện nhận con la, và treo kiếm và dao găm ở bàn thờ Ðức Mẹ trong nhà thờ.” Hồi ký [17]

Tại đây, I-nhã từ bỏ hoàn toàn những phù hoa xưa cũ và hiến dâng mình cho vị Chủ Tể mới. Từ đó, ngài chọn lối sống đơn sơ, ôm lấy sự nghèo khó. Đặt thanh gươm xuống vĩnh viễn, I-nhã hăng say lao mình vào đời sống thiêng liêng. Ngài đổi áo với một người nghèo, rồi rời Montserrat lúc bình minh, âm thầm bắt đầu cuộc sống mới.

Từ đan viện Biển Đức Montserrat, giữa những đỉnh núi hoang sơ và hiểm trở, I-nhã xuống thị trấn Manresa náo nhiệt. Trong mười tháng tại đây, ngài học cách nhận ra cách Thiên Chúa tác động nơi linh hồn con người. Ban đầu, ngài sống khắc khổ quá mức: tước bỏ mọi việc chăm sóc ngoại hình, không cắt tóc, không cắt móng tay, ăn xin từng bữa. Không lâu sau, lối sống cực đoan ấy bắt đầu gây tổn hại cho ngài.

“Những khó khăn của lối sống ấy hiện ra trước mắt ngài như một tiếng nói nội tâm: ‘Vậy làm sao ngươi có thể chịu đựng cuộc sống này suốt bảy mươi năm còn lại?’” Hồi ký [10]

Thời gian ở Manresa vừa dữ dội vừa khác thường. I-nhã bị dày vò bởi mặc cảm tội lỗi và tuyệt vọng, đến mức có lúc nghĩ đến việc tự kết liễu đời mình. Cuối cùng, ngài nhận ra sai lầm của việc hành xác quá độ và hiểu rằng ơn tha thứ của Thiên Chúa là ân ban nhưng không, không thể mua bằng đau khổ tự áp đặt.

“Nghĩ mãi, kẻ ấy thấy mình hết sức chán ngán cuộc sống đang theo đuổi và bị cám dỗ bỏ cuộc rất mạnh. Chúa đã chọn cách ấy để đánh thức kẻ ấy khỏi cơn mê…Thế là hoàn toàn sáng suốt, kẻ ấy quyết định không xưng lại bất cứ tội cũ nào nữa. Từ đó về sau, kẻ ấy được giải thoát khỏi các bối rối. Chắc chắn nhờ lòng từ bi của Chúa mà kẻ ấy đã được giải thoát.” Hồi ký [25]

Sau khi đổi hướng, I-nhã học được cách đưa ra các quyết định với Thiên Chúa, biết phân định con đường Chúa dẫn mình đi – một kinh nghiệm mà sau này ngài chia sẻ với nhiều người. Ngài ở Manresa gần một năm và bắt đầu gặt hái nhiều hoa trái thiêng liêng. Trong hang đá bên bờ sông Cardoner, những giờ cầu nguyện và chiêm niệm đã đặt nền móng cho Linh Thao. Một đoạn tiểu sử xúc động kể rằng chính tại Manresa, khi đơn sơ nhìn dòng sông trôi, I-nhã đã nhận được kinh nghiệm thiêng liêng lớn nhất đời mình.

Không sao nói rõ các chi tiết trong những điều kẻ ấy hiểu được lúc ấy, vì rất nhiều. Tuy nhiên, có thể khẳng định là tâm trí kẻ ấy được soi sáng đến nỗi suốt đời, đến nay đã 62 năm, nếu kẻ ấy gom lại tất cả những trợ giúp đã nhận được từ Thiên Chúa và mọi điều kẻ ấy biết được, cộng chung lại, kẻ ấy không nghĩ là bằng những gì đã nhận được chỉ một lần ấy. Ðiều ấy để lại trong tâm hồn Cha một ánh sáng mạnh đến nỗi Cha thấy mình như trở thành một người khác, có một trí khôn khác với trí khôn đã có trước đó.” Hồi ký [25]



NGƯỜI HÀNH HƯƠNG

1523 – 1524

1523 – 1524
Thật nguy hiểm khi buộc mọi người cùng đi một con đường; và còn nguy hiểm hơn khi lấy chính mình làm thước đo cho người khác.”
Người hành hương

Từ Manresa, I-nhã hành hương lên đường đến Giêrusalem. Vượt qua những hiểm nguy của Địa Trung Hải thời chiến, năm 1523 I-nhã hành khất từng chặng để đến Đất Thánh. Từ Tây Ban Nha, ngài đến Venezia, lên tàu sang Giêrusalem và “không mang theo lương thực nào ngoài lòng tin tưởng nơi Thiên Chúa”. Tại đây, ngài sốt sắng bước theo những dấu chân của Chúa Giêsu.

Kẻ ấy quyết tâm ở lại Giêrusalem để thường xuyên viếng các Nơi Thánh. Ngoài ước muốn đạo đức này, kẻ ấy cũng có ý định giúp đỡ các linh hồn.” Hồi ký [45]

I-nhã bày tỏ ước muốn ở lại để giúp người Hồi giáo hoán cải, nhưng các tu sĩ Phanxicô coi sóc Thánh Địa, với sự khôn ngoan mục vụ, đã buộc ngài phải trở về.

Nhiều người cũng đã có ước nguyện như vậy, nhưng người thì bị bắt, người thì bị giết. Rồi nhà dòng phải chuộc những người bị bắt. Vì thế kẻ ấy phải chuẩn bị hôm sau lên đường cùng với đoàn hành hương.” Hồi ký [46]

Thất vọng vì không thể noi gương các thánh tại Thánh Địa, I-nhã đón nhận điều ấy như thánh ý Chúa. Giấc mơ tan vỡ, ngài trở về quê hương để tìm gặp Đức Kitô không phải trong lý tưởng lãng mạn của việc cải hóa thế giới hay sống trên mảnh đất xưa kia Chúa đã bước đi, mà trong những biến cố đời thường của chính cuộc sống mình.


NGƯỜI TÙ

1525 – 1528

1525 – 1528
Nhiều người cũng đã có ước nguyện như vậy, nhưng người thì bị bắt, người thì bị giết. Rồi nhà dòng phải chuộc những người bị bắt. Vì thế kẻ ấy phải chuẩn bị hôm sau lên đường cùng với đoàn hành hương.” Hồi ký [46]

Ước muốn lớn lao của I-nhã là giúp người khác nhận ra Thiên Chúa đang hoạt động trong những biến cố bình thường đời sống. Tuy nhiên, công việc của ngài thường bị các vị chức sắc trong Giáo Hội nhìn bằng con mắt nghi ngờ, bởi vào thời ấy, châu Âu đang trong thời kỳ Cải cách đầy căng thẳng và bất ổn, và người ta dễ thấy lạc giáo ẩn nấp khắp nơi.

I-nhã nhận ra rằng con đường tốt nhất để được phép giảng dạy trong Giáo Hội là theo học triết học và thần học, và trở thành linh mục. Vì thế, ngài quyết định bước vào đời sống sinh viên. Tại Barcelona, ở tuổi ba mươi ba, ngài trở lại trường học, ngồi chung với các thiếu niên để học tiếng Latinh. Đến năm 1526, khi đã nắm được những nền tảng của ngôn ngữ cổ này, I-nhã chuyển đến Đại học Alcalá để học Triết học. Chính tại đây, ngài bắt đầu hướng dẫn Linh Thao cho dân chúng và nhanh chóng thu hút đông đảo người tham dự.

I-nhã
“Trong khi ở Alcalá, kẻ ấy cũng hướng dẫn Linh Thao và dạy giáo lý Công Giáo, và thu được hoa trái để tôn vinh Thiên Chúa. Nhiều người đã hiểu sâu xa và ham mê những điều liên hệ đến đời sống thiêng liêng… Có những điều khác khiến cho công chúng bình phẩm, nhất là vì rất nhiều người trong thành phố xúm lại nghe kẻ ấy dạy giáo lý.” Hồi ký [57]

Chính vào thời điểm này, I-nhã vướng vào cuộc điều tra của Tòa án Giáo lý Tây Ban Nha, những người từ Toledo đến để xét hỏi đời sống và giáo huấn của ngài. Năm 1527, I-nhã bị giam vì giảng dạy tôn giáo khi chưa hoàn tất chương trình đào tạo chính thức. Sự khắc nghiệt của các cuộc thẩm tra có thể cảm nhận rõ qua một đoạn đối thoại trong tiểu sử của ngài, khi I-nhã hỏi một người bạn:

Các vị ấy có thấy chúng con lạc giáo gì không?”
“Không,” Figueroa trả lời, “Nếu có thì các anh bị thiêu rồi!”
Hồi ký [57]

Cuối cùng, I-nhã bị giam tại Alcalá suốt bốn mươi hai ngày.

Khi thời gian ấy kết thúc… viên kiểm sát vào nhà giam đọc bản án. Kẻ ấy được tự do, nhưng kẻ ấy và các bạn cùng chí hướng phải mặc quần áo giống các sinh viên khác, và không được đề cập các vấn đề thuộc về đức tin trong vòng 4 năm, cho tới khi học hành đến nơi đến chốn, vì như lúc ấy thì chưa đủ.” Hồi ký [62]

Sau đó, I-nhã lại bị bắt lần nữa tại Salamanca bởi các tu sĩ Đa Minh, những người nghi ngờ sự thiếu đào tạo luân lý chính quy của ngài. Một lần nữa, Linh Thao của I-nhã bị điều tra, và ngài phải ra trước tòa xét xử. Sau hai mươi hai ngày giam giữ, I-nhã và người bạn đồng hành được trả tự do, với kết luận rằng không có lạc giáo nào trong giáo huấn của họ.

Sau khi được thả, I-nhã lúc này là một sinh viên, rời Tây Ban Nha để đến Paris và Học viện Montaigu, nơi có bầu khí tự do hơn, dù vào thời điểm đó nước Pháp là một nơi đầy hiểm nguy đối với người Tây Ban Nha.

Nhiều người nổi tiếng đã hết sức năn nỉ kẻ ấy đừng đi, nhưng không sao thuyết phục được… Khi trở về Barcelona, kẻ ấy được mọi người từng quen biết cố can ngăn đừng sang Pháp, vì chiến sự dữ dội đang diễn ra ở đó. Họ nêu lên những thí dụ rất rõ ràng, cả đến cho rằng người Tây Ban Nha bị xiên để nướng. Nhưng kẻ ấy không hề mảy may sợ sệt.” Hồi ký [72]

ĐẤNG SÁNG LẬP

1528 – 1535

1528 – 1535

Khi đến Paris, việc học tập thuần túy không còn đủ để thỏa mãn I-nhã. Trong lòng ngài được thôi thúc bởi một ước muốn: thực hiện công trình của Thiên Chúa cùng với các bạn đồng hành.

Tại Salamanca, thời gian bị giam giữ đã không làm phai nhạt nơi kẻ ấy những ước nguyện mưu ích cho các linh hồn. Chính vì thế, kẻ ấy đã quyết định đi học và quy tụ những người cùng chí hướng cũng như giữ những bạn cùng chí hướng đã có.” Hồi ký [71]

I-nhã quy tụ quanh mình những người trẻ, khơi dậy nơi họ lòng nhiệt thành phục vụ Thiên Chúa. Trong khi tiếp tục học Triết học, ngài hướng dẫn Linh Thao cho họ. Sáu người bạn thân thiết nhất của ngài là: Phanxicô Xaviê, Alfonso Salmerón, Diego Laynez, Nicholas Bobadilla, Pierre Favre và Simão Rodrigues.

Để trang trải việc học, mỗi năm I-nhã dành một thời gian đến vùng Flanders để xin trợ giúp. Mùa hè năm 1530, ngài đi xa hơn, sang tận London. Sự quảng đại của người dân nơi đây đã mang lại cho ngài số tiền nhiều hơn tất cả những gì ngài từng xin được trước đó – đủ để trang trải cho cả một năm học.

Ngày 15 tháng 8 năm 1534, cha Pierre Favre dâng Thánh lễ trong một nhà nguyện trên sườn đồi Montmartre. Tại đây, tất cả cùng tuyên khấn nghèo khó và khiết tịnh, đồng thời hứa rằng sau khi hoàn tất việc học, họ sẽ hành hương đến Đất Thánh. Họ quyết định gặp nhau tại Venezia để lên đường. Chính ngày hôm ấy, Dòng Chúa Giêsu được khai sinh, với tất cả họ là những người đồng sáng lập. Sứ mạng lớn lao của họ giờ đây mở ra trước mắt.

Ngay từ thời gian ấy, tất cả đã quyết định phải làm gì: đi Venezia và Giêrusalem, để xả thân mưu ích cho các linh hồn. Nếu không được phép ở lại Giêrusalem, họ sẽ trở về Rôma, đến trình diện vị Ðại Diện Ðức Kitô [Đức Giáo hoàng], để ngài sai họ đến đâu ngài xét là sẽ tôn vinh Thiên Chúa hơn và mưu ích cho các linh hồn hơn.” Hồi ký [84]

LINH MỤC

1537 – 1556

1537 – 1556

Cuộc hội ngộ đã diễn ra, nhưng các bạn đồng hành chờ đợi trong vô vọng một con tàu hành hương đến Đất Thánh. Ngoài những hiểm nguy thiên tai thường thấy, còn có mối đe dọa từ chiến tranh với người Thổ. Tuy nhiên, những gì xảy ra trong thời gian chờ đợi này còn quan trọng hơn bất cứ cuộc hành hương nào. Chính lúc ấy, ngày 24 tháng 6 năm 1537, I-nhã và những người bạn đường chưa là linh mục được thụ phong. Riêng I-nhã đợi đến Lễ Giáng Sinh năm 1538 mới cử hành Thánh lễ đầu tiên, vì lòng tôn kính sâu xa đối với Thánh Thể và vì ngài cảm thấy mình bất xứng.

Tháng 7 năm 1537, nhóm rời Venezia đến Vicenza lân cận, vẫn tiếp tục chờ đợi. Tại đây, nhóm bạn đừng bắt đầu sứ vụ: chăm sóc bệnh nhân và giúp đỡ người nghèo, trong khi chính họ sống trong cảnh túng thiếu. Để thu hút người nghe, họ ném mũ lên không trung, rồi bằng sự pha trộn vui nhộn của nhiều ngôn ngữ, những người Tây Ban Nha và Pháp ấy giảng cho dân Ý.

Bốn người cùng lúc đi đến những quảng trường khác nhau, vào cùng một ngày và một giờ, bắt đầu bài giảng bằng cách kêu to và vẫy mũ gọi dân chúng. Những bài giảng ấy khiến cả thành phố xôn xao, và nhiều người được thúc đẩy lòng đạo đức.” Hồi ký [94]

Trong giai đoạn này, họ thường xuyên chịu rét, đói và bệnh tật, nhưng lại tràn đầy niềm vui sâu xa. Khi mang tình yêu Đức Kitô đến cho người nghèo và bệnh nhân, trong chính đời sống đơn sơ của mình, họ tìm được niềm hạnh phúc sâu thẳm nhất.

Đầu năm 1538, nhóm lúc này đã có 9 người – quyết định lên đường về Rôma để sẵn sàng phục vụ Đức Thánh Cha. Trên đường đi, I-nhã có một thị kiến đáng nhớ: Chúa Cha “đặt ngài bên cạnh Con của Người” đang vác thập giá. Theo Đức Kitô chịu đóng đinh, I-nhã tiếp tục tiến về Rôma.

Sau nhiều suy xét nghiêm túc và cầu nguyện, I-nhã và các bạn quyết định chính thức liên kết với nhau, vì nhận ra rằng họ sẽ hữu hiệu hơn khi cùng nhau hơn là riêng lẻ. Năm 1540, với trọng sắc Regimini militantis Ecclesiae của Đức Giáo hoàng Phaolô III, Dòng Chúa Giêsu chính thức được thiết lập.

Họ dấn thân vào các sứ mạng: giáo dục, rao giảng Lời Chúa, phục vụ người nghèo và bệnh nhân tại các khu ổ chuột của các thành phố châu Âu, và lên đường đến những vùng đất xa xôi để loan báo Đức Kitô. Dòng tu mới chọn sự linh hoạt để đáp ứng những đòi hỏi của thời đại Cải Tổ và Phản Cải Cách. Không còn lối sống đan viện với các giờ kinh chung liên tục; cũng không có tu phục riêng biệt. Mỗi người thờ phượng Thiên Chúa theo cách phù hợp nhất và hoàn toàn tự do để đáp lại những nhu cầu của tha nhân.

Cộng đoàn Dòng Tên được duy trì qua những khoảng cách mênh mông bằng những lá thư. Họ là những con người có học vấn, có thể đối thoại với các nhà cải cách; không bị quyến rũ bởi quyền lực hay của cải; khao khát hoán cải các dân tộc cho Đức Kitô; sẵn sàng làm mọi sự cho vinh danh Thiên Chúa hơn cả.

I-nhã được các bạn bầu làm Bề trên Cả đầu tiên của Dòng Chúa Giêsu. Vì thế, ngài gắn bó với bàn làm việc tại Rôma, viết thư cho những người, như Phanxicô Xaviê, nổi tiếng không kém ngài. Những lá thư ấy vừa khích lệ, vừa nhắc nhở, vừa xin giúp đỡ; kể những chuyện đời thường lẫn những thành tựu phi thường. Trong mười sáu năm, người từng là tay chơi, người lính và kẻ hành hương học cách ở lại phía sau, điều phối và tổ chức sự phát triển của Dòng Chúa Giêsu trên khắp thế giới. Ngài trở thành một trong những người viết thư nhiều nhất châu Âu thế kỷ XVI: hơn 7.000 lá thư của ngài vẫn còn được lưu giữ.


VỊ THÁNH

Thánh I-nhã qua đời ngày 31 tháng 7 năm 1556, hưởng thọ 65 tuổi. Ngài được tuyên phong chân phước năm 1609 bởi Đức Giáo hoàng Phaolô V, tuyên thánh năm 1622 bởi Đức Giáo hoàng Grêgôriô XV, và được tuyên phong là bổn mạng các cuộc tĩnh tâm thiêng liêng năm 1922 bởi Đức Piô XI. Lễ kính thánh I-nhã được cử hành vào ngày 31 tháng 7.

Trong Linh Thao, ngài thường lặp lại một câu diễn tả mục đích của đời người:

Con người được dựng nên để ca tụng, tôn kính và phụng sự Thiên Chúa, Chúa chúng ta, và nhờ đó cứu rỗi linh hồn mình.”

I-nhã không bao giờ đánh mất mục đích ấy, cũng như khát vọng giúp người khác nhận ra điều đó. Ngày nay, chúng ta vẫn còn thừa hưởng tất cả những con đường thiêng liêng mà ngài đã truyền dạy – hoa trái của một đời sống không ngừng kiếm tìm Thiên Chúa.

I-nhã

>